Cây cà chua của Milton Erickson

Đây là chuyện kể về nhà thôi miên huyền thoại đã giúp khẳng định vị trí của ngành thôi miên trong Y học hiện đại.


You know much more than you know you know. Milton H. Erickson

1.

Thành phố Phượng Hoàng, bang Arizona, Hoa Kỳ. 1918.

- Ngồi dậy cho bác xem nào con! Mil nhìn bác sĩ. Hình như ông đã gọi tên cậu và lặp lại câu này vài lần. Mil cố nghiêng người qua một bên, cố chống tay ngồi dậy. Ngực cậu ưỡn hẳn lên vì cố gắng, nhưng cậu không thể ngồi lên nổi. Mil lại buông người xuống. Ông bác sĩ tiến sát lại dùng tay đỡ lưng giúp cậu ngồi lên. Ông lại nói: - Cúi đầu xuống, cố chạm cằm vào ngực cho bác xem nào! Mil cố gắng. Sau gáy đau kinh khủng. Đầu cậu run lên vì cố gắng. Không thể được.

- Được rồi con trai. Bác khám xong rồi. Nhắm mắt ngủ đi. Mil liếm môi. - Uống nước, phải không con? Bác sĩ đưa cốc nước vào sát miệng cho Mil uống. Tự nhiên cậu rơi nước mắt, rơi cả vào nước trong cốc. ​ Mắt ông bác sĩ nhìn Mil dịu dàng. Cậu thiếu niên mảnh mai và xanh lướt này có thể gọi là đẹp trai và trông có vẻ thông thái, nhưng nay ánh lửa sức sống trong cậu nhạt quá rồi. Ông đưa tay vò nhẹ mái đầu bù xù của cậu. Một tay ông nhè nhẹ chỉ ra cửa, ra hiệu cho bà mẹ. Hôn má Mil một lần nữa, mẹ nhẹ nhàng xoa đầu cậu, chỉnh cái khăn trên trán, ra hiệu cho cậu ngủ, rồi cùng bác sĩ bước qua phòng khách. Đầu cậu quay cuồng. Càng lúc càng quay cuồng. Mil nhắm chặt mắt. Dường như tim cậu đập rất nhanh, giật thon thót thon thót như con chim bị thương. Toàn bộ người cậu đau cứ như có nhiều người đang nghiền nát tay, chân, lưng, cổ cậu. Còn cái đầu thì bây giờ chỉ như một lò lửa.

-------------------

- Con chị sốt bại liệt, nặng lắm. Hai tay nắm chặt tay người thiếu phụ, người bác sĩ cố gắng truyền cho cô chút lòng can đảm. Hai mắt cô mở to, đầu lắc quầy quậy. Hai người bác sĩ còn lại trong phòng, rất trẻ, lặng lẽ nhìn người thiếu phụ. Họ có vẻ như không có kinh nghiệm trong những tình huống như thế này, nhất cử nhất động họ đều chiếu theo người thầy lớn tuổi. - Chị, tôi hiểu... - Bác sĩ ơi, nó không thể bị gì được. - Theo những gì chúng tôi thấy, cháu đã mắc bệnh thể nặng nhất. Giờ cháu đã liệt cơ chân và tay, và đang tiến triển thêm nữa khá nhanh. Khó thở, suy hô hấp có thể đến trong đêm nay, chậm lắm là sáng mai. Và lúc đó thì cháu nó sẽ không qua được. Hiện y học chưa có cách nào để ngăn chặn tiến triển này. - Bác sĩ ơi, nó tràn đầy sức sống mà! Xưa giờ nó vẫn yêu đời lắm. - … Nhìn ánh mắt bác sĩ, bà mẹ cuống lên thêm một bậc nữa. - ... Bác sĩ ơi, các ông hãy cố gắng. Chúng tôi cầu nguyện suốt mấy đêm nay. Người chồng, nãy giờ vẫn đứng lặng bên góc bàn, tiến đến ôm lấy vợ. Cô ôm lấy chồng và khóc nức nở trên vai anh. - Không! Chúa ơi! Anne, cô con gái lớn cũng bước ra khỏi góc phòng mà nãy giờ cô ẩn nấp, tiến lại ôm lấy mẹ. Các bác sĩ không biết làm gì nữa. Ông bác sĩ già bắt tay người cha, vỗ vào vai người mẹ, thì thầm thêm vài lời động viên, rồi họ rút lui. Bên ngoài, tiếng trẻ con chơi nhí nhố la hét lọt vào qua cửa sổ mở rộng để thu gió vào nhà. Chiều huy hoàng ngự trị trên bầu trời Phoenix. Mặt trời đường bệ như thể không mảy may quan tâm đến việc mình đang phủ chiếu ánh vàng quá kiêu kỳ thần thánh trên mặt đất tầm thường đau khổ này của con người, nơi có những con vi khuẩn, vi rút thật mạnh hoành hành không gì khống chế nổi, và một mái đầu xanh mới mười bảy tuổi vừa không được cấp phép tồn tại nữa trên thế gian này. Anne mắt đỏ hoe tiễn các bác sĩ đến cổng rào, và gom các em đang chơi ngoài sân cát vào nhà. Chúng nó vẫn ngây thơ quá, không hiểu lúc này anh mình đang nguy kịch thế nào rồi. Cô “suỵt” không cho các em làm ồn, rồi lặng lẽ dọn bữa tối. Gian bếp nóng khô làm cô bức bối. Bữa chiều trở nên thật khó nuốt nổi. Mẹ vẫn ôm cha sùi sụt khóc mãi. -----------------------------

Mắt Mil mở trừng trừng nhìn sững. Người mẹ giật nảy cả mình khi thấy cảnh đó, cô bước nhanh đến. Trán nó nóng còn hơn cả khi nãy nữa. Sao con người có thể nóng đến mức này!!! Cô nhanh nhẹn đặt miếng vải ướt khác lên trán con, vuốt ve cánh tay con và bật đèn. Ánh đèn vàng yếu ớt làm căn phòng như nóng hơn nữa. Cô sang phòng khách mở rộng cửa sổ, và để mở rộng cửa thông với phòng Mil. Hy vọng đêm bắt đầu buông mau khí mát, và Mil sẽ được dễ chịu một chút. Cầm chén súp thật loãng đến bên con, cô đỡ con ngồi dậy. Muỗng súp kề môi nhưng Mil chỉ mấp máy xin nước. Giọng nói cậu lúc này nhỏ như muỗi kêu thật khó nghe. Định đặt con nhẹ nằm xuống, cô thấy cậu lắc đầu. Cô áp sát tai vào miệng con: - Mẹ, lấy gối kê lưng cho con ngồi nha mẹ. Cô làm theo lời. Đôi tay vạm vỡ cô đỡ cậu con trai mảnh dẻ một cách dễ dàng, nhưng xếp đặt gối sau lưng cậu tìm một thế ngồi vững chãi thì không dễ, cậu không còn sử dụng được các cơ của mình nữa, để mặc mẹ xoay vần. Xếp đặt thật chu đáo một kiểu ngai bằng các loại gối cho con, cô còn dùng tay vuốt các góc gối cho thật thẳng thớm. Giờ chắc hẳn nó được dễ thở hơn. Ôi, con tôi! Mil lại thì thầm: - Mẹ… kéo cái tủ áo kia… áp sát đầu giường… cho con. Chắc nó sảng rồi, cô nghĩ. Nhưng Mil trò chuyện khó nhọc quá, cô không đôi co gì, gọi ngay chồng vào sắp xếp. Lục cục một lúc, hai người mới xếp được chiếc tủ ở một vị trí khiến ánh mắt Mil có vẻ hài lòng. Rồi cậu ngả đầu tựa vào gối, nhắm nghiền mắt lại. Người cha ngồi xuống trước mặt Mil. Ông cầm hai tay con bằng cả đôi tay thô sần của mình, nhìn con một lúc lâu với đôi mắt đỏ ngầu. Bỗng ông đứng lên, đột ngột bỏ ra ngoài. Tay Mil máy nhẹ như thể muốn giữ ông lại, nhưng ông không trông thấy. - Mẹ... - Sao con? - Con nhất định không sao… mẹ! Con… yêu mẹ! Cô trào nước mắt, ôm lấy Mil, lau mồ hôi trên trán cậu và hôn vầng trán xanh mét. Đột ngột, cô đứng thẳng người lên, nhìn quanh phòng. Mọi thứ đều hết sức ngăn nắp rồi nhưng cô vẫn sắp xếp tỉ mẩn vài vật dụng quanh bàn người ốm. Rồi quỳ xuống, khuôn mặt úp vào hai lòng bàn tay, cô rì rầm cầm nguyện. Mái đầu thanh nhã với làn tóc dài đen và chiếc váy dài xanh sậm lẫn vào bóng tối nhá nhem cuối chân giường Mil. Mil mở mắt nhìn mẹ mình. Mẹ không nói gì với cậu hết về những lời ác nghiệt kia. Mil cũng không nói được gì hết. Nhưng cậu đang hét to trong đầu. Hét rất to. Bác sĩ kiểu gì lại có thể nói với một bà mẹ là con bà sắp chết! Ông ta sai rồi! Sai! Sai! Sai! Mil không chết. Cậu sẽ sống, cậu sẽ ở bên mẹ hoài. Cậu sẽ lớn lên, bảo vệ mẹ! Cậu nhất định sống. Ở bên mẹ hoài. Mil nhìn chằm chằm vào tấm gương tủ áo, qua đó cậu nhìn thấy phản chiếu khung cửa sổ của phòng khách, qua đó cậu có thể thấy một phần cổng rào, một phần bụi cây to bên trái cổng, và con đường nhỏ trước nhà dẫn thẳng tít tắp về phía chân trời, và khuôn trời giờ đây đã sẫm màu. Mặt trời đã lặn và màn trời bắt đầu hiện dần những chấm bạc lấp lánh là những vì sao. Biết bao năm đã qua Mil đã bay nhảy, vui đùa trên mảnh đất này, trên con đường này, khi mưa cũng như khi nắng. Sẽ không còn ra được đến cánh cổng ấy nữa à? Đến chiều mai khi mặt trời lần nữa ngả xuống phía Tây này, Mil sẽ không còn trên đời sao? Tôi sẽ không thấy mặt trời lần nữa hả? Ông chờ xem!

-------------

Mil nhìn chằm chằm vào gương. Ở đó cậu sẽ thấy mặt trời một lần nữa, nhất định. Rất quan trọng là cậu sẽ không rời mắt khỏi cửa sổ đó, dù thế nào đi chăng nữa. Hình như bên trái, rồi bên phải, có lúc phía trước, có lúc phía sau cậu... có những tiếng nổ khô khan, kỳ cục, không giống thứ tiếng gì cậu từng nghe thấy. Có lúc cậu thấy những màu sắc tưng bừng khắp nơi. Rồi tan đi. Rồi chẳng có gì nữa cả. Chẳng có gì. Một lúc không biết bao lâu. Chắc cậu ngủ quên đi một chút, nhưng giờ tỉnh rồi, cậu không bỏ qua khuôn trời trong cửa sổ. Nhất định không. Mẹ thì thào điều gì... Mẹ ru. Hay mẹ cầu nguyện... Nhất định không. Nhất định sẽ nhìn thấy mặt trời lần nữa. Đêm chậm chạp rồi dần cũng phải trôi qua. Không ai biết đêm ấy đối với Milton dài bao nhiêu. Mẹ cậu luôn ở đó, như vệ tinh vờn quanh cậu, khi thì cầu nguyện, lúc chăm chút lau mồ hôi, đắp khăn ướt, thì thầm những điều mà cũng không rõ liệu con mình có nghe hiểu hay không. Cậu bé ép sát đầu dựa vào tấm gương tủ áo, mắt mở trừng trừng. Trời hửng dần, rồi sáng, rồi trưa, rồi chiều đến. Dưới một mái nhà giản dị nằm giữa một vùng cỏ màu xanh ngả vàng và cây thưa lá có một bà mẹ cứ xoay vòng quanh chàng trai trẻ của bà như một hành tinh kính cẩn trên quỹ đạo quanh mặt trời. Bà mẹ ấy đan một vòng bảo hộ quanh con với những lời cầu nguyện. Cử chỉ của bà chỉ dịu dàng với con mình, còn ngoài ra ngày càng lộ vẻ căng thẳng và quyết liệt, dù chỉ là thu xếp một tấm chăn hay thắp một ngọn nến. Giữa vòng ma thuật ấy, ánh mắt Mil thỉnh thoảng cũng lạc thần nhưng cậu vẫn nhất quyết không nhắm mắt. Thần chết mà xuất hiện hẳn cũng phải có vài giây sờn lòng trước hai mẹ con. Mil không biết thời gian là gì nữa, chẳng còn điều gì khiến cậu quan tâm nữa ngoài mặt trời. Cậu phải nhìn thấy lại mặt trời. Nhất định nhìn thấy lại mặt trời. Khi mặt trời bắt đầu chuyển về Tây rạng rỡ, và qua khuôn cửa sổ ánh vàng rực tỏa rộng, phản chiếu qua tấm gương rọi sáng hẳn khuôn mặt trắng bệch của Mil, cậu thốt ra một tiếng thở dài nghe như tiếng nức nở. Mặt trời vàng rực. Chói chang. Choán hết không gian. Mil muốn chỉ tay về phía mặt trời, nhưng tay không theo ý cậu. Mil mấp máy môi, nhưng không nói ra được lời nào. Đầu choáng lên một cú cuối cùng, cậu không biết gì nữa.

---------------------------------------

- Ồ, Mil mở mắt này chị. Qua khe mắt nhỏ tí, Mil nhìn thấy khuôn mặt lo âu và mái đầu xù của ông bác sĩ. Và mẹ Mil nhanh chóng lao đến, ôm lấy cậu mà khóc nức nở. Cả cha, Anne và các chị em gái nữa, họ đều xúm xít quanh giường - M... mẹ. - Sống rồi, chị ạ. - ... - Bé con giỏi lắm. Con nằm im ba ngày rồi, ai cũng tưởng con sẽ chết. - Bác sĩ… con thấy mặt trời lên! - Ừ con. - Chắc chắn bao giờ con cũng… sẽ thấy mặt trời lên. Bác sĩ không nói gì nữa, ông hơi gật đầu. - Cha, cha chặt hàng rào và bụi cây ở cổng đi rồi à? Sao vậy? - Con nói gì? - Cổng rào.. bụi cây… - Thì vẫn ở đó mà? - Con không thấy? - Sao con? - Con chỉ thấy mặt trời! Cha cậu sang phòng bên mở cửa sổ ra, không khí của một buổi mai mùa hè tinh khiết và hãy còn tươi mát ùa vào từng ngóc ngách trong nhà. Định cựa mình ngồi dậy, cậu thấy mình vẫn không thể cử động tay chân một chút nào. Qua tấm gương tủ áo, Mil thấy bụi cây bù xù như cái đầu tròn màu xanh bạc vẫn ở nguyên chỗ của nó, cùng đoạn hàng rào. Mil không hiểu. Lúc ấy cậu đã chỉ thấy mặt trời, không thấy điều gì khác nữa cả. Chỉ có mặt trời.

---------------------------------------

2

Hồ Thanh thuỷ, Arizona[1]. 1966.

Milton Erickson gõ nhẹ cửa rào. Một bà lão mở cửa ngay cho ông như thể bà đang chờ sẵn tự bao giờ sự viếng thăm này. Milton bước vào, bước chân ông chắc dù hơi chậm, chỉ thỉnh thoảng cần tựa vào chiếc can gỗ nâu sậm cầm bên tay phải. - Có phải khi xưa ông đã từng bị bại liệt không, bác sĩ? Tôi nghe con trai kể lại… - Đúng vậy, bà ạ. Tôi từng nằm không nhúc nhích trên giường nhiều năm, cả trò chuyện cũng vô cùng khó. - Thế chuyện gì đã xảy ra để ông đi lại được... tóm lại là có ngày hôm nay ? - Tôi tin là con người có khả năng làm được nhiều điều hơn ta tưởng nhiều. Tôi biết điều đó từ cái đêm người ta bảo rằng tôi sẽ chết khi trời sáng, và tôi quyết định không để điều ấy xảy ra. Tôi mở mắt suốt đêm, chờ thấy lại mặt trời ngày hôm sau, cương quyết phải sống, tự thôi miên mình rằng chuyện đó sẽ phải như vậy. Tất cả sức lực thể chất lẫn tinh thần tôi đều dồn lại để chống chọi. Tôi quyết phải thấy lại mặt trời, và điều đó đã trở thành hiện thực. - Nhưng con người thì rồi phải chết chứ, đúng không bác sĩ. Như tôi, như chồng tôi, chúng tôi chẳng thể sống mãi chỉ bằng cách quyết định không chịu chết ? - Chúng ta có một số giới hạn tự nhiên, ví dụ ta không thể bất tử. Nhưng nếu tôi không muốn chết vào tuổi mười bảy, hoặc nếu một người rất già không muốn chết lăn lộn rên la mà ngược lại muốn ra đi trong sự thanh thản an bình... thì đều nằm trong tầm tay ta cả. - Ra thế. Chính vì vậy mà con tôi đổi cả thế giới này để mời bằng được ông đến đây. Ông, chỉ ông mới có thể giúp Joe! - Chúng ta sẽ xem, bà ạ. - Theo lời ông, các bác sĩ đã ngưng cho morphine ngày hôm nay, vì vậy, ông sẽ thấy Joe hơi... bị kích thích. - Tôi biết. - Và Joe ghét các bác sĩ, ông ấy cho rằng họ thiếu lương tâm nghề nghiệp. Khi trồng hoa, ông ấy chăm sóc nhu cầu của hoa rất tốt, chẳng có gì mà Joe không làm được. Thế thì vì sao các bác sĩ không làm được nhiệm vụ của họ, sao vẫn để ông ấy đau đớn như thế ! Cả hai bước vào một gian phòng rộng, tường và sàn đều lát gỗ. Các cửa sổ đều mở toang, phất phơ những tấm màn trắng mỏng trong veo như cánh chuồn chuồn. Ánh sáng mùa thu ngập từng ngóc ngách của gian phòng. Hoa đủ loại màu sắc được bày trong bình to lọ nhỏ, giữa bàn trên kệ... bởi những bàn tay có trình độ thẩm mỹ thượng thừa. Giữa phòng, một ông già ngồi nghiêng nghiêng trong ghế bành bọc da màu sậm, cả hai bàn tay đều vướng víu dây truyền dịch. Cô y tá đang cho ông uống một chút nước với một ống thông thẳng vào cổ họng. Xong, cô cuộn ống lại cố định vào vai áo bệnh nhân một cách gọn gàng. Khi cô bước sang một bên, Milton đối diện với... một nửa khuôn mặt nhăn nhó và một đôi mắt thù nghịch. Bà lão kín đáo nhìn Milton xem ông có giật mình không, nhưng không thấy gì cả. Bà đặt một tay lên cánh tay chồng, vuốt ve, khuôn mặt bệnh nhân dần dịu lại. Khi ấy bà mới lên tiếng : - Joe này, ông đây là thầy của Arthur. Hôm nay đi ngang qua nhà mình, Arthur không có đây nhưng ông ấy vẫn muốn ghé qua thăm hỏi mình một chút. Vườn nhà mình đẹp quá, ông ấy khen từ lúc vào đến giờ. - Thật xứng là nhà của một người trồng hoa, ông ạ. Chào ông, tôi là Milton Erickson. Joe gật đầu khẽ ra hiệu chào, và với tay lấy giấy bút. Từ ngày khối u trên mặt ông được cắt đi, cùng với một góc lớn của khuôn mặt và một phần vùng họng, ông thở qua lỗ mở khí quản và không nói gì được nữa. Nếu ông cố gắng, qua lỗ tròn ở cổ họng người ta chỉ nghe tiếng gió khò khè. Tay hơi run, Joe viết : - Ông muốn gì ? - Muốn chuyện gẫu với cha mẹ Arthur một chút trong buổi sáng trong trẻo này, và ngắm góc vườn đẹp này qua cửa sổ. Thật là một niềm vui. Mắt Joe loé ánh tự hào. Milton ngồi xuống một chiếc ghế bên cạnh Joe, bỏ chiếc can sang một bên, duỗi chân thoải mái. - Joe này, tôi muốn nói chuyện với ông. Tôi biết ông là một nhà kinh doanh hoa, rằng ông trồng hoa, và cái vườn này cho tôi bằng chứng là ông không giàu có và nổi tiếng một cách ngẫu nhiên. À, tôi biết thưởng thức lắm đó nhé. Tôi lớn lên trong một trang trại ở Wisconsin và tôi cũng thích trồng hoa, trồng rau trái. Bây giờ tôi vẫn còn thích. Vậy ông chi cần ngồi đó, trong cái ghế bành thoải mái đó, và tôi có thể tán chuyện với ông. Tôi sẽ nói chuyện nhiều đó nha, nhưng tôi không nói về hoa đâu vì về mặt đó ông biết nhiều hơn tôi. Ông sẽ không muốn nghe tôi nói về hoa đâu. Vợ Joe đặt một cốc nước trên bàn trước mặt Milton Erickson và rút lui về phía cửa. Cô y tá liền theo sau. Hai người để hé cửa chứ không khép lại sau lưng, và Milton biết ngay là họ đều dán tai nghe lén phía sau cánh cửa. Điềm nhiên, Milton tiếp tục cuộc gần như độc thoại vì Joe xem như không thể nói câu nào đáp lại. - Và bây giờ khi tôi nói chuyện, và tôi có thể nói chuyện rất thoải mái, tôi muốn ông cũng nghe tôi thật thoải mái khi tôi kể về chuyện cây cà chua[2]. Đó là một chủ đề khá ngộ để trò chuyện. Nó làm người ta tò mò. Sao lại nói chuyện về cây cà chua? Người ta gieo hạt cà chua vào đất. Người ta có thể hy vọng nó nảy mầm và mọc thành một cây cà chua, rồi ra trái, làm ta thấy thoả mãn. Hạt cây hút nước, chuyện đó không khó khăn gì mấy vì những cơn mưa đem lại cảm giác dễ chịu và an bình. Đối với cái hạt, được phát triển, ra hoa và kết trái là một niềm vui. Joe à, ông biết không, cái hạt giống nhỏ đó sẽ hút nước và nứt ra, vươn ra những cái rễ con tí xíu phủ lông mao. Chắc ông không biết lông mao là gì, nhưng đó là cái thứ có tác dụng giúp hạt giống phát triển, lớn lên, đội lớp đất và chui ra mầm non, và ông có thể nghe tôi kể chuyện còn tôi thì sẽ nói tiếp và ông có thể tiếp tục vừa lắng nghe vừa tự hỏi, tự hỏi mình những điều này có thể cho mình biết thêm gì, và đây là bút chì và giấy của ông, nhưng quay lại cái mầm cà chua, nó lớn lên chầm chậm. Ông không thể trông thấy nó lớn lên, ông không thể nghe thấy nó lớn lên, nhưng thật sự nó có lớn lên, bắt đầu thấy cái lá mỏng đầu tiên, những lông mao trên thân, trên lá, cũng như những lông mao của rễ, chúng giúp cho cây cà chua cảm thấy rất thoải mái, rất dễ chịu nếu như ông có thể thật sự hiểu một cái cây có thể có cảm xúc gì. Và rồi ông vẫn không thể thấy nó lớn lên, không thể cảm thấy nó lớn lên, nhưng cái lá thứ hai xuất hiện trên thân, rồi lại thêm lá nữa. Có thể, nếu ta nói chuyện kiểu trẻ con, có thể cây cà chua lớn lên mà thấy rất thoải mái và an bình. Từng ngày nó lớn lên, lớn lên, và lớn lên, và thật là thoải mái biết mấy, Joe ạ, khi biết một cái cây đang lớn dần mà ta không thấy nó lớn, không cảm thấy, nhưng chỉ biết là mọi chuyện với cái cây cà nhỏ xíu đang ngày càng tốt hơn vì nó bắt đầu lại có thêm lá nữa, rồi lại lá nữa và bắt đầu chia cành rồi nó phát triển thoải mái về mọi hướng[3]. Vợ Joe nhón chân bước vào phòng. Mặt bà lo âu vì có lẽ thời gian đã trôi qua khá nhiều. Đứng sau Joe sao cho chồng không nhìn thấy, bà cầm một tờ giấy viết chữ to: Bao giờ thì ông bắt đầu thôi miên? và diễu qua diễu lại. Nhưng Milton không có vẻ gì là nhìn thấy bà, mà vẫn tiếp tục nói chuyện ê a, dài dòng. Được một lúc, cáu tiết, bà chuồi tờ giấy lên mặt bàn trước mặt Milton, nhưng làm thế nào nó lại rơi ngay trước mắt Joe. Milton không có vẻ gì là quan tâm, vẫn tiếp tục mô tả cây cà chua không ngưng nghỉ. Bà đánh bạo vòng ra phía trước như thể sửa sang bình hoa trên bàn thì thấy chồng mình chẳng hề nhìn tới mình. Joe có vẻ không biết vợ đang ở đó, đôi mắt ông mở to với ánh nhìn sững vào giữa không trung. Bà rút lui tức khắc. - Và nhanh chóng thôi, ở đây, ở đó, cây cà chua bắt đầu nảy ra một cái nụ trên một cành nào đó, cành nào không quan trọng vì chẳng bao lâu, cành nào cũng sẽ có đầy những cái nụ xinh đẹp. Tôi tự hỏi không biết cây cà chua có thể cảm thấy, thật sự cảm thấy khoan khoái không. Ông biết không, Joe, một cái cây là một tạo vật tuyệt vời, và nếu có thể nói về nó như nói về một con người thì thật dễ thương. Một cái cây như thế có lẽ có cảm giác vui tươi dễ chịu khi thấy mình đang ra trái nhỏ, mới hình thành, nhỏ li ti, mà đã tràn đầy hứa hẹn, và làm ta cảm thấy thèm ăn những trái cà chua ngon lành, chín mọng, ăn thức ăn ngon lành như thế thật khoái biết mấy, cũng như cảm giác một đứa bé đang khát muốn uống nước, Joe à, đó chính là cái cảm giác mà cây cà chua cảm thấy khi mưa rơi xuống, gột rửa bụi bặm và cho tất cả cảm giác mát lành. Milton ngừng lời, uống một ngụm nước, vuốt ve một đoá hồng bạch to tướng trong bình hoa trước mặt. Mùi thơm tuyệt diệu của loại hoa này thật khó có gì sánh nổi. - Ông biết đấy, Joe, một cây cà chua nở hoa mỗi ngày, từng ngày từng ngày một. Tôi thích nghĩ rằng cây cà chua biết cách tận hưởng cảm giác dễ chịu từng ngày, ông biết đó, Joe, từng ngày từng ngày một. Các cây cà chua đều thế cả. Joe chợt ra khỏi trạng thái thôi miên, có vẻ mất phương hướng. Ông nhảy lên giường, quơ quơ tay.[4] Joe dường như không nghe thấy hay nhìn thấy ai. Cô y tá chồm ngay vào phòng không cần Milton phải gọi và chụp kịp Joe khi ông nhảy xuống khỏi giường và tiến thẳng về phía Milton. Cô lau mồ hôi trên trán Joe, cho ông uống chút nước lạnh qua ống thực quản. Milton đứng bên quan sát một cách bình tĩnh, và khi thấy Joe đã yên, ông dẫn Joe cho ngồi lại vào ghế. Cô y tá lại rút lui nấp vào sau cánh cửa. Milton cầm tay Joe, tò mò xem xét dây truyền trên tay ông như một người chưa nhìn thấy những vật này bao giờ. Joe chộp giấy bút và viết “Nói đi, nói nữa đi”, nguệch ngoạc rất khó đọc với đôi tay run dữ dội. - Ồ được, Joe, tôi , với tư cách là một người lớn lên từ nông trại, tôi cho rằng hạt cà chua là một điều tuyệt vời trên đời, nghĩ thử xem, Joe, nghĩ về hạt nhỏ ấy có thể chứa bên trong mình một cái cây tuyệt đẹp còn chưa được ra đời, mầm cây ấy ngủ thật êm ái, nhẹ nhàng bên trong cái hạt nhỏ. Và cái cây tương lai sẽ có nhiều cành, nhiều lá. Cành lá cũng thật đẹp đẽ, màu sắc tươi sáng. Cứ thế ông có thể thấy rất vui khi ngắm nhìn chỉ một cái hạt vì ông biết ngủ ngon lành êm ái bên trong nó là cả một cái cây tuyệt vời trong tương lai. Đã đến giờ trưa, tôi đi ăn một chút rồi sẽ trở lại trò chuyện với ông thêm nữa.



--------------------------------------

[1] Lake Havasu City. Nghĩa của từ Havasu trong ngôn ngữ thổ dân là ha “water” + vasu “blue-green” [2] Các bạn đọc sẽ lưu ý rằng những từ được viết nghiêng dùng để đánh dấu những ám thị thôi miên được gieo rải rác, có thể là những vần, từ, ngữ, câu được nói với một cách phát âm hơi khác. [3] Nhiều điều kể trên đã được Milton Erickson lặp lại nhiều lần, khi thì một ngữ, có khi lặp lại cả vài câu. Ông đã cẩn thận đa dạng hoá cách dùng từ trong khi vẫn giữ nguyên những ám thị thôi miên. Sự lặp lại này có thể làm người đọc chán ngán nên được lược bớt đi khi thuật lại, nhưng người đang trong trạng thái thôi miên thì không hề lấy thế làm phiền. [4] Những hành vi này rất đặc trưng và khiến ta nghĩ đến tình trạng ngộ độc mà chúng ta thường thấy ở những bệnh nhân không tương hợp với thuốc nhóm barbiturate (một nhóm thuốc an thần).


-----------------


3.

Los Angeles, California, 12 tháng Một, 1967.

- Thầy ơi, ta lên máy bay nhé. - Chưa đến giờ mà. Con đợi ta một chút. Milton đến cột điện thoại công cộng và quay số. - Ôi bác sĩ, tuyệt biết bao khi lại được nghe giọng nói của ông. - Tôi cũng vui nếu lúc nào giọng bà cũng sang sảng như thế này. Joe thế nào rồi ? - Ông ấy ổn bác sĩ ạ. Có yếu dần đi và tôi tin rằng ung thư vẫn tiến triển. Nhưng ông ấy không nhăn nhó khó chịu gì như trước kia. Ông ấy chịu ăn, đêm thì ngủ yên, cho các cháu đến gần, và khi nhìn chúng chơi tôi thấy khuôn mặt Joe thanh thản lắm. Ngàn lần cảm ơn bác sĩ. - Đã bốn tháng rồi nhỉ ? - Dạ đúng. Vậy mà hồi tháng Mười, người ta nói Joe không sống thêm được một tháng nữa. - Tôi phải đi đây, chào bà nhé. - Khoan đã bác sĩ, Joe muốn nói chuyện với ông. - Joe ? - (Shzzz) - Ý Joe muốn nói Chào ông đấy. - Xin chào. Vui lắm khi trò chuyện cùng ông ! Milton buông điện thoại, rồi thong thả bước vào đường dẫn lên máy bay. Người học trò cao và thanh mảnh xách cặp cho ông và theo sát một bên như sẵn sàng đỡ ông khi cần, mặc dù trông Milton vẫn xoay sở rất tốt với cây gậy bên tay phải. Họ là những người cuối cùng bước vào máy bay.

--------------------------

Edward[1] thu xếp chỗ ngồi cho thật thoải mái. Ông hơi không được thon thả lắm, nên chiếc ghế máy bay đối với ông thật là khó ngồi quá. Nhưng rồi cũng ổn thoả, ông ngả lưng và quyết định mình sẽ có một chuyến bay thật thoải mái. Lần này đến New York, ông sẽ đối mặt với một vụ tư vấn làm ông hồi hộp nhất từ trước đến nay, trong cả sự nghiệp của mình. Chủ tịch hiện tại của AMA, học trò yêu của ông, có vẻ lo âu quá thể vì chàng cao bồi Milton Erickson đó. “- Thầy xem, cứ thế thì loạn rồi còn gì. Hầu như không ai biết ông ta thôi miên bệnh nhân những gì. Chỉ biết rằng sau đó họ cứ thế mà cun cút nghe theo. Có ngồi bên cạnh ghi chép, thâu âm thì cũng thế thôi, người ta không hiểu mấy ông ta đã làm gì. Quá sức nguy hiểm. - Nhưng chẳng phải ông ta làm nên những kỳ tích sao? Cái câu chuyện cây cà chua đó... - Đúng rồi, ở đây người ta nói về chuyện này suốt. Nhưng thầy này, các bác sĩ tâm thần có tần suất mất thăng bằng hơi cao đấy. Hôm nay là thiên thần không có nghĩa là ngày mai không trở thành ác quỷ. Nếu... - Với chữ “Nếu” người ta có thể đặt cả Paris trong một cái chai. - Nhưng nay ông ta lại muốn mở lớp dạy học trò. Chuyện nghiêm trọng thật rồi, thầy ạ. Chúng ta phải chặn ông ta lại. - Thế anh định làm gì? - Em đã tìm ra một cái luật, ở đó nói rằng bác sĩ không được làm gì mà không giải thích rõ ràng cho bệnh nhân hoặc người nhà... Lần này ông ta khốn rồi. Nhưng rồi dư luận sẽ phản đối nếu ông ta bị tước bằng... - Tước bằng! Nghiêm trọng thế à! - Và cấm tất cả các thể loại lớp học nữa. Thầy, chuyện can hệ lớn lắm! Thầy phải đến bàn việc với em mới được. Em có nhiều băng ghi âm, thầy sẽ thấy độ nguy hiểm của vấn đề”. Edward cảm nhận một cảm xúc lẫn lộn trước trường hợp này. Ông chưa biết mình sẽ tư vấn cho học trò mình ra sao, nhưng đây thật là một tình huống gợi cho ông sự tò mò tối đa. Người tiếp viên nhanh nhẹn đến gần chỗ ông ngồi, đặt một chiếc giỏ xách lên khoang hành lý, và rồi, người đồng hành sẽ ngồi ghế bên phải của ông xuất hiện phía sau lưng cô. Ông nhìn lên: Milton Erickson! Khuôn mặt Edward không để lộ một biểu cảm gì đặc biệt. Nhưng cô gái tóc nâu ngồi ghế sát cửa sổ thì hơi đổi sắc mặt và từ đó kín đáo quan sát Milton Erickson. Máy bay cất cánh về hướng New York.

----------------------------------- Rời khỏi máy bay, Edward và Milton đi kề sát nhau, miệng vẫn không ngừng trò chuyện cho đến tận lúc phải chia tay nhau. Họ đã kịp trở thành hai người bạn. Anh học trò thanh mảnh của Milton và cô thư ký tóc nâu của Edward lặng lẽ đi sau, rồi họ chia tay khi đến bãi đỗ taxi. Khi đã yên vị trên xe, cô thư ký chịu hết nổi, phải lên tiếng hỏi Edward: - Thưa ông, ông thấy ngài Erickson thế nào ạ? - Alice ạ, một con người phi thường đấy. Alice không dám hỏi thêm, cô thường không dám trò chuyện nhiều với ông chủ khó tính và ít lời này. Tuy nhiên, những diễn biến ngày hôm nay tạm thời làm cô thấy yên tâm hơn. Kể từ lúc đọc về Milton Erickson trên báo chí, cô đã xem người bác sĩ này là thần tượng, và cô khổ sở hết sức khi nghe lóm được là có một âm mưu đang được dựng lên chống lại ông. Hai người đến được khách sạn thì trời đã tối. Sau khi đã bố trí chu đáo phòng ốc cho sếp, Alice bước xuống sảnh. Tâm trí của cô lại quay về với cuộc gặp gỡ trên máy bay. Tình cờ ư, hay có sự sắp xếp gì ở đây? Cho vài đồng xu vào khe của hộp điện thoại, cô quay số Henry. - Anh ơi... - Honey, em đến nơi bình an chứ? - Ổn cả anh ạ. Anh thế nào rồi? - Tuần sau anh sẽ về nhà. Cô áp má vào lớp kính cabin, mỉm cười nhìn những hạt mưa đang rơi nhanh lấp loáng ánh đèn đường. - Em nhớ anh quá. - Anh cũng vậy. Và em chờ nhé, anh có cái này rất hay cho em xem. - Cái gì cơ? - Anh không nói, lúc đó mới nói. Tạm thời hài lòng với nụ hôn của anh trước nhé... - Ôi, em nhớ anh! ----- [1] Edward R. Annis, chủ tịch Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA: American Medical Association) từ 1962 đến 1964.


---------------------------------


4.

Los Angeles, California, 19 tháng Một, 1967.

Alice nhào thẳng vào tay anh với một tiếng reo khẽ. Đôi tay anh và đôi môi anh đón cô mạnh, ấm. Tóc cô rối vì gió và trán lấm tấm mồ hôi vì đi bộ quá nhanh, nhưng hơi thở cô gấp gáp và mặt đỏ bừng đến thế thì không hoàn toàn do đi bộ quá nhanh. --- - Sao rồi em, chuyện ngài Erickson ra sao rồi. Lấy ngón trỏ xoa xoa vào giữa hai mắt Alice, Henry vừa khiến cô buồn ngủ lại đòi cô phải kể chuyện cho anh nghe. Thật trái khoáy! - Lệnh cấm đó và những vụ lùm xùm tấn công ông ấy sẽ chẳng bao giờ diễn ra nữa. - Sao thế? - Chỉ sau một chuyến bay bên cạnh ngài Annis thôi anh ạ, mọi chuyện đã xoay chuyển có lợi hẳn cho ông ấy. - Em có cho rằng ông ấy đã thôi miên Edward? - Em nghĩ có lẽ vậy, nhưng em không thấy. Em ngồi cạnh cả buổi nhưng em không thấy ông ấy làm điều gì như thôi miên cả. - Kỳ diệu thật! Alice mỉm cười. Cô xoay sang đưa hai tay ôm lấy mái đầu Henry. - Còn anh, quà của em đâu, nào! - Ai nói sẽ có quà cho em? - Anh đã nói mà, cho em xem đi, nhanh đi! - Em khoẻ chưa nào? Qua đây! Henry bế bổng cô, mang sang phòng làm việc bên cạnh. Alice nhăn mặt. Anh nhanh nhẹn kéo màn cửa sổ che kín mít. - Anh xin lỗi. Rồi kéo tay Alice đến góc phòng nơi có một khối to lù lù, phủ bạt, anh nhìn cô đầy vẻ kiêu hãnh, rồi giật tấm bạt xuống. Hiện ra một khối kim loại lù xù xen lẫn kính, với nhiều vòi, nhiều ống, nhiều bánh răng. Trông na ná như một cabin điện thoại nhưng xấu xí hơn, cùng nhiều chi tiết phức tạp mà Alice nhìn không hiểu gì. - Đây là cái gì đây, anh? Henry chỉ tay vào một cái hộp trông như bảng điều khiển, với một bản đồ điện tử và những đồng hồ đo phức tạp. - Em có thể chọn một địa điểm trên đây, xác định một thời điểm nào đó, có thể là nhiều năm về trước... - Và... - Và BÙM, em sẽ xuất hiện ở nơi ấy vào năm ấy. - Trời, nó là... Máy thời gian? - Đúng vậy em ạ! Cỗ máy thời gian! ---- Một giờ đồng hồ đã trôi qua, Alice say sưa nghe Henry giảng giải. Cô yêu anh quá những khi anh phấn khích như thế này. Thỉnh thoảng cô bóp nhẹ tay anh tỏ ý tán thưởng, dù câu chuyện càng lúc càng đụng đến những khái niệm kỹ thuật cô không thể hiểu. - Anh này, anh đã thử về quá khứ chưa? - Anh thì chưa em ạ. Anh đã cho cho một cái hũ đi du hành về quá khứ, và đã thành công. Sau đó là những con chuột... - Cụ thể là sao? Sao anh biết là thành công? - Em nhớ cơn mưa cách đây hai tuần chứ? Tuần trước anh đã cho đậu xanh vào một cái hũ với ít bông gòn, và không một giọt nước. Anh cho nó về quá khứ bảy ngày, địa điểm là trên sân thượng. Điều khiển xong, cái hũ biến mất. Anh lên sân thượng thì tìm thấy nó. Đậu xanh đã mọc thành giá. - Ồ ồ ồ... - Giờ em mới tin có phải không? Alice cười, không phải cô thiếu lòng tin, nhưng phát minh động trời này... - Sao anh không đi thử? Đậu vẫn còn nguyên vẹn, chứng tỏ không có nguy hiểm gì. Chuột cũng sống chứ anh hả? - Sống. Nhưng vấn đề là như thế này: anh phải ở đây để điều khiển máy. Và cho tới nay anh không có một trợ tá nào. Chuyện này quá lớn, anh chưa muốn ai biết vội. - Em đi có được không? - Ồ, em à, không! Cần phải thử nghiệm lại nữa... ---------------------------- Cuối cùng thì Alice cũng đã được Henry cho phép vào cabin. - Em muốn đi đâu nào? Tò mò nghịch ngợm, Alice chấm tay vào một điểm trên bản đồ, nhà của mẹ cô, thành phố Phượng Hoàng, Arizona. - Năm? - Anh đùa em! Vài ngày thôi. Ba ngày nhé? - Được. - Anh sẽ ghé mẹ đón em nhé? Henry cười, hôn cô. Anh đóng cửa cabin lại, và hí hoáy điều chỉnh máy. Chợt giây cuối cùng, ngay lúc Henry nhấn nút GO thì Tom, chú mèo của anh nhảy chồm tới. Và núm vặn thời gian bị chú mèo chạm phải xoay chỉnh đến năm 1918.

----------------------------------

5.

Thành phố Phượng Hoàng, Arizona. 1918.

Alice xuất hiện trước một cổng rào của một căn nhà cấu trúc đơn giản, có sân rộng bao quanh. Có ba đứa bé con đang chơi quanh sân, nhễ nhại vật nhau trong nắng chiều nóng nực. Cạnh cổng có một bụi cây to, lá nhỏ li ti màu xanh bạc. Ngôi nhà nằm giữa một cách đồng rộng, bên trái và bên phải có vài căn nhà khác, kiểu cách cũng tương tự. Khung cảnh nơi đây vừa là lạ, lại vừa hơi quen quen. Đây là đâu nhỉ? Sao Henry nói là sẽ đưa cô đến nhà mẹ? Không thấy nhà mẹ cô đâu! Bầy chó trong vườn sủa ngậu xị, phản đối sự có mặt của người lạ trước nhà. Cô đi dạt sang một bên rào hy vọng chó bớt sủa, và đứng đó một lúc suy ngẫm xem phải làm gì. Có lẽ cô sẽ hỏi các bé con xem đây là đâu. Giờ không chỉ có chó mà mấy con ngỗng trong vườn cũng thi nhau quàng quạc lên. Một dàn đồng ca kinh khủng. --- Bên trong nhà, mẹ của Milton đi từ phòng người bệnh ra phòng khách, theo sau là ông bác sĩ. Cô chị Anne lặng lẽ khép chặt cánh cửa thông qua phòng em trai để cậu đỡ bị ồn ào bởi tiếng chó, tiếng ngỗng nhặng xị. --- Mil thấy đầu mình quay cuồng. Càng lúc càng quay cuồng. Mil nhắm chặt mắt. Dường như tim cậu đập rất nhanh, giật thon thót thon thót như con chim bị thương. Toàn bộ người cậu đau cứ như có nhiều người đang nghiền nát tay, chân, lưng, cổ cậu. Còn cái đầu thì bây giờ chỉ như một lò lửa. Cậu có thể ngủ, cậu sẽ cố gắng ngủ. Và rồi Mil chìm dần vào đêm đen.

--------------------------------------------------

6.

Thành phố Phượng Hoàng, Arizona. 2015.

Tôi kính cẩn chạm tay vào tấm bia đá. Milton Hyland Erickson 5 December 1901 – 25 March 1980 You know much more than you know you know.

Tôi đưa tay nắm chặt tay anh, muốn anh hiểu tôi cảm kích đến thế nào vì anh đã đưa mình đến tận đất nước xa xôi này, để thăm ngôi mộ thần tượng. You know much more than you know you know.

Trái đất này dường như vì thế đã trở nên đẹp hơn một chút, khi người có thể tin người như thế. Khi chúng ta có thể tin mình như thế. Chợt tấm bia đá như hơi rung rinh. Tôi dụi mắt. Tấm bia rõ ràng là rung rinh, trở nên mờ ảo đi và... biến mất. Tôi không tin được vào mắt mình. Thay vào đó, hiện ra một bia mộ khác, nhỏ hơn, trông điêu tàn cũ kỹ. Phải chú ý đọc kỹ ta mới thấy được những gì khắc trên đó:

Nơi đây an nghỉ Milton Hyland Erickson 5 December 1901 – 25 May 1918 Cậu bé đã làm cuộc đời những người thân yêu của cậu rộn ràng và tươi sáng với những tò mò vô tận về cuộc đời và con người.

 

Chuyện được tôi viết theo dòng suy tưởng của riêng mình, dựa trên nhiều mẩu chuyện đã trở thành huyền thoại, được truyền miệng đầy ngưỡng mộ từ thế hệ nhà thôi miên này đến thế hệ khác: Joe và cây cà chua, cậu bé bại liệt khăng khăng phải thấy được mặt trời lên, chuyến bay của Milton và chuyển biến đột ngột của những người chống đối ông.

Bạn có thể nghĩ tất cả những điều này chỉ là huyền thoại. Làm gì mà có thật!

Vũ Phi Yên.

29/08/2015.

158 views0 comments

Recent Posts

See All